Xét nghiệm sàng lọc trước sinh ở tuần bao nhiêu?

Các xét nghiệm sàng lọc trước sinh là vô cùng quan trọng để theo dõi sức khỏe và sự phát triển của bào thai trong bụng. Nó cũng giúp chuẩn đoán sức khỏe của thai phụ và phát hiện các rủi ro liên quan đến dị tật bẩm sinh ở trẻ sơ sinh.

Sàng lọc trước sinh là gì?

Xét nghiệm sàng lọc trước sinh là một tập hợp gồm nhiều loại xét nghiệm được thực hiện trong thai kỳ ở phụ nữ mang thai.

Mục đích chính là để xác định xem em bé có bị dị tật bẩm sinh hay không. Hầu hết các xét nghiệm đều không yêu cầu quá phức tạp, thường là dùng các mẫu thử bao gồm máu và nước tiểu, ít khi xâm nhập sâu hơn đến các bộ phận khác bên trong cơ thể.

Loading...

Xét nghiệm sàng lọc trước sinh thường được thực hiện vào cuối tam cá nguyệt thứ nhất hoặc đầu tam cá nguyệt thứ hai. Tức là từ khoảng tháng thứ 3 đến tháng thứ 5. Một số xét nghiệm khác có thể được thực hiện vào tam cá nguyệt thứ 3 (từ tháng thứ 7 đến tháng thứ 9).

Các xét nghiệm sàng lọc trước sinh chỉ có thể cung cấp cho bạn các yếu tố rủi ro hoặc xác xuất, rằng có một điều kiện cụ thể nào đó đang tồn tại và có thể ảnh hưởng đến bào thai khiến em bé khi sinh ra có nguy cơ bị dị tật bẩm sinh.

Nghĩa là sau khi có kết quả xét nghiệm, và kết quả có xuất hiện một hoặc nhiều điều kiện nhất định phù hợp, các bác sĩ có thể nói cho bạn rằng “con của bạn có thể bị dị tật bẩm sinh sau khi sinh” và điều có thể này có thể trở thành sự thật hoặc không.

Nếu các xét nghiệm sàng lọc trước sinh không cho thấy các dấu hiệu bất thường, bạn sẽ được khẳng định là thai nhi vẫn bình thường.

Một số các xét nghiệm thuộc dạng sàng lọc trước sinh mang tính thường quy. Điển hình như xét nghiệm dung nạp glucose và xét nghiệm tiểu đường thai kỳ. Phụ nữ mang thai phù hợp một số điều kiện khác có thể được yêu cầu thực hiện thêm các xét nghiệm khác chuyên sâu hơn.

Sàng lọc trước sinh ở tuần bao nhiêu?

Như đã nói, trên thực tế, xét nghiệm sàng lọc trước sinh là một tập hợp của nhiều loại xét nghiệm và thủ tục khác có liên quan đến sức khỏe của bà mẹ và thai nhi.

Vì thế, các xét nghiệm thường được tiến hành vào nhiều tuần thai khác nhau và KHÔNG CỐ ĐỊNH trong một tuần thai nhất định nào.

Các xét nghiệm thuộc tam cá nguyệt thứ nhất, tức là thai phụ mang bầu từ 1 đến 3 tháng, có thể được tiến hành sớm nhất vào tuần thai thứ 10. Đây thường là các xét nghiệm máu và siêu âm. Mục đích là để kiểm tra sự phát triển của bào thai và kiểm tra xem con của bạn có mắc phải các căn bệnh di truyền điển hình như bệnh Down. Thai nhi cũng được kiểm tra cho các khuyết tật tim, xơ nang và các vấn đề về phát triển khác.

Các xét nghiệm sàng lọc trong tam cá nguyệt thứ hai (4 – 6 tháng) thường được thực hiện trong tuần thai từ 14 đến 18. Thường là các xét nghiệm máu để kiểm tra xem em bé có nguy cơ bị hội chứng Down hay không hoặc khuyết tật ống thần kinh. Việc siêu âm thai cũng cần được tiến hành định kỳ.

Các kiểm tra sàng lọc trước sinh

Siêu âm

Siêu âm là sử dụng sóng âm để chụp hình ảnh của em bé bên trong bụng mẹ. Thử nghiệm này được sử dụng để xác định kích thước và vị trí của em bé, xác định xem người mẹ đang ở trong giai đoạn mang thai như thế nào và tìm ra những nguy cơ có thể trong cấu trúc xương và các cơ quan khác đang phát triển của bào thai.

Một siêu âm đặc biệt được gọi là siêu âm màng phổi nuchal được thực hiện từ tuần thứ 11 đén 14 của thai kỳ. Mục đích là kiểm tra sự tích tụ chất lỏng ở phần sau cổ của thai nhi. Khi chất lỏng này nhiều hơn bình thường nghĩa là thai nhi có nguy cơ bị bệnh DOWN cao hơn sau khi sinh.

Các lần siêu âm thai nhi trong tam cá nguyệt thứ hai sẽ cho kết quả chi tiết và rõ ràng hơn. Ảnh chụp vào thời điểm này được dùng để đánh giá kỹ càng hơn từ đầu đến chân của bào thai xem có bất cứ vấn đề bất thường nào liên quan đến khuyết tật hoặc dị tật bẩm sinh hay không.

Lưu ý rằng, không phải tất cả các loại dị tật bẩm sinh đều có thể được phát hiện thông qua biện pháp siêu âm.

Xét nghiệm Double test

Trong tam cá nguyệt đầu tiên, hai loại xét nghiệm máu được gọi là xét nghiệm sàng lọc tổng hợp tuần hoàn và sàng lọc tổng hợp huyết thanh sẽ được tiến hành. Mục đích là để đo nồng độ các chất bên trong máu của người mẹ bao gồm: protein huyết tương do mang thai và một loại hoocmon gọi là gonadotropin.

Mức bất thường của hai chất bên trên cho thấy nguy cơ cao hơn có một nhiễm sắc thể không bình thường xuất hiện trên bào thai.

Trong lần xét nghiệm máu này, người mẹ cũng được chuẩn đoán xem có mắc các bệnh như giang mai, viêm gan B hoặc HIV hay không.

Ngoài ra, loại máu và yếu tố Rh cũng được xác định tại đây. yếu tố Rh sẽ được dùng để xem xét mức độ tương thích của nó với thai nhi trong bụng. Nếu Rh âm tính, cơ thể của người mẹ có thể sẽ tạo ra các kháng thể ảnh hưởng đến lần mang thai tiếp theo.

Xét nghiệm CVS (Chorionic Villus Sampling)

Nếu các xét nghiệm trước bao gồm siêu âm và thử máu, thai nhi bị chuẩn đoán là có nguy cơ cao bị các loại dị tật bẩm sinh. Các bác sĩ có thể yêu cầu người mẹ tiếp tục thực hiện xét nghiệm CSV. Thường được thực hiện vào tuần thai từ 10 đến 12.

Một mẫu mô nhỏ sẽ được lấy ra từ nhau thai và dùng mẫu thử này để kiểm tra kỹ càng hơn các điều kiện dẫn đến dị tật.

Xét nghiệm CSV có tác dụng phụ thường là gây chuột rút, nó cũng có xác xuất nhất định gây xảy thai.

Xét nghiệm Triple test

Được thực hiện trong tam cá nguyệt thứ hai và chủ yếu để thay thế cho những người không thực hiện xét nghiệm Double test.

Nó cũng giúp phán đoán khả năng bị dị tật ở bào thai nhưng tỷ lệ thấp hơn so với xét nghiệm Double test.

Xét nghiệm dung nạp glucose

Kiểm tra độ dung nạp glucose giúp phát hiện bệnh đái tháo đường thai kỳ – một dạng tiểu đường thường chỉ là tạm thời.

Người mẹ bị tiểu đường thai kỳ thường có bào thai nặng cân vượt mức bình thường dẫn đến khả năng phải sinh mổ là cao hơn những người khác.

Việc xét nghiệm được thực hiện theo quy trình. Người mẹ uống một cốc nước đường (chuyên dụng), sau đó y tá lấy máu rồi kiểm tra lượng đường trong máu xem có gì bất thường hay không.

Chọc ối

Thực hiện chọc ối thường diễn ra sau tuần thứ 15 của thai kỳ. Người mẹ có thể phải thực hiện điều này nếu:

  • Các bài kiểm tra sàng lọc trước sinh đã thực hiện cho kết quả bất thường
  • Người mẹ có bất thường nhiễm sắc thể trong lần mang thai trước đó
  • Người mẹ lớn tuổi (trên 35)
  • Gia đình có tiền xử của một loại rối loạn di truyền cụ thể

Các bác sĩ thực hiện chọc ối để lấy mẫu nước ối trong tử cung đem đi xét nghiệm.

Xét nghiệm liên cầu khuẩn nhóm B

Group B Streptococcus (GBS) là một loại vi khuẩn có thể gây nhiễm trùng nghiêm trọng ở phụ nữ mang thai và thai nhi. Vi khuẩn này có thể tìm thấy trong miệng, cổ họng, trực tràng và âm đạo của phụ nữ.

GBS trên âm đạo thường không gây ảnh hưởng đến phụ nữ ngay cả khi mang thai. Nhưng nó có thể gây hại đối với một em bé sơ sinh chưa có hệ thống miễn dịch mạnh mẽ. GBS có thể gây nhiễm trùng nghiêm trọng cho trẻ sơ sinh khi bị phơi nhiễm.

Người mẹ có thể thực hiện Xét nghiệm liên cầu khuẩn nhóm B khi thai đã được 35 đến 37 tuần tuổi.

Loading...

Thảo luận về điều này:

thảo luận